VI | EN

Nhạy cảm” với Covid-19, xuất khẩu dệt may 2021 có về mốc 39 tỷ USD?

Hàng dệt may xuất khẩu rất nhạy cảm với dịch Covid-19 và việc định giá lại ngành dệt may khó có thể xảy ra trong năm 2021…

Vitas ước tính xuất khẩu hàng dệt may vào cuối năm 2020 đạt 35,3 tỷ USD (-10% so với cùng kỳ) – ảnh minh họa.

Trong báo cáo về triển vọng ngành dệt may năm 2021 vừa công bố, công ty chứng khoán SSI (SSI Research) nhận định, hàng dệt may xuất khẩu rất “nhạy cảm” với dịch Covid-19 và việc định giá lại ngành dệt may khó có thể xảy ra trong năm 2021.

Giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2020 đạt 31,7 tỷ USD (-11% so với cùng kỳ). Giá trị xuất khẩu hàng may mặc giảm (-) 10% so với cùng kỳ, đạt 26,9 tỷ USD. Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas) ước tính xuất khẩu hàng dệt may vào cuối năm 2020 đạt 35,3 tỷ USD (-10% so với cùng kỳ).

Thị phần tại Mỹ tăng nhưng không bù lại nhu cầu giảm

Báo cáo của SSI Research dẫn thông tin của Văn phòng Dệt may Hoa Kỳ (OTEXA), cho biết, Việt Nam tiếp tục giành thêm thị phần tại Mỹ trong năm 2020, từ 13% trong năm 2019 lên 14,9% tính đến cuối tháng 10/2020, trong khi Trung Quốc mất thị phần trong cùng khoảng thời gian đó (từ 32,8% xuống 28,1%). 

Nhạy cảm với Covid-19, xuất khẩu dệt may 2021 có về mốc 39 tỷ USD? - Ảnh 1.
Tăng trưởng xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam theo tháng (YoY) – nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, SSI Research.

Tuy nhiên, thị phần tăng thêm không thể bù đắp được tác động của nhu cầu giảm, khiến giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ vẫn giảm (-) 6% so với cùng kỳ. 

Ngoài ra, các thương hiệu bán lẻ thời trang phá sản trong đợt đại dịch cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các công ty sản xuất hàng may mặc của Việt Nam, trong đó Công ty cổ phần May Sông Hồng (mã chứng khoán MSH) bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi khách hàng chính – NY & Co – tuyên bố phá sản vào tháng 7 khi đang nợ MSH 219 tỷ đồng. 

Tuy các đơn đặt hàng truyền thống giảm mạnh do nhu cầu suy yếu, nhu cầu cấp bách tạm thời đối với mặt hàng may mặc phòng chống dịch Covid-19 (khẩu trang vải kháng khuẩn và quần áo bảo hộ) đã hỗ trợ một số công ty sản xuất hàng may mặc, báo cáo của SSI Research cho hay.

Cụ thể, theo OTEXA, Việt Nam đã xuất khẩu 272 triệu USD khẩu trang dệt kim trong 10 tháng đầu năm 2020, chiếm 23,3% thị phần của mặt hàng này tại Mỹ. Hơn nữa, các cơ quan y tế của chính phủ Mỹ đã nhấn mạnh việc đeo khẩu trang (thậm chí sau khi tiêm vắc-xin), cho thấy nhu cầu với mặt hàng này vẫn có thể kéo dài hơn trong năm 2021. 

Mặc dù Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020 và được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội cho các công ty dệt may của Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường EU – thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, tuy nhiên, do EVFTA yêu cầu quy tắc xuất xứ từ khâu vải trở đi, nên hầu hết các công ty may mặc của Việt Nam không được hưởng lợi tức thì.

Có thể về mốc 39 tỷ USD?

Đánh giá về triển vọng tăng trưởng của ngành dệt may năm 2021, đơn vị nghiên cứu SSI Research cho rằng, hàng dệt may xuất khẩu rất “nhạy cảm” với dịch Covid-19. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam giảm trong tháng 4 và tháng 5 sau thông báo giãn cách xã hội tại EU và Mỹ, do các nhà bán lẻ đã hành động ngay lập tức để ngừng tích trữ hàng tồn kho.

Theo dự báo của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (được SSI Research trích dẫn trong báo cáo), rằng giá trị xuất khẩu năm 2021 có thể phục hồi về mức năm 2019, đạt 39 tỷ USD, tương đương với mức tăng trưởng 10,6% so với cùng kỳ, cao hơn so với  tốc độ tăng trưởng hàng năm kép (CAGR) giai đoạn 2015-2019 là 9,9%. 

Đối với mục tiêu giá trị xuất khẩu năm 2025 đạt 55 tỷ USD (CAGR 5 năm là 9,4% trong giai đoạn 2020-2025), để đạt được tốc độ CAGR một con số cao như vậy, Việt Nam phải xây dựng nguồn cung vải trong nước phù hợp để khai thác lợi ích của cả EVFTA và UKVFTA. 

Ở góc độ định giá giá trị (cổ phiếu) của các doanh nghiệp trong ngành, theo SSI Research, Công ty Cổ phần Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công (mã cổ phiếu TCM) đã vượt qua mức định giá so với trước Covid và hiện đang giao dịch với hệ số P/E 2021 là 12,5x và P/E TTM là 12,3x – cao hơn nhiều so với P/E bình quân 1 năm trước đây và P/E TTM bình quân 5 năm là 7,9x, trong khi STK (Công ty cổ phần Sợi Thế Kỷ) và MSH (Công ty CP May Sông Hồng) đang giao dịch trong vùng lịch sử của P/E dự phóng 1 năm: P/E 2021 của STK đang là 6,3x, và của MSH (theo dữ liệu Bloomberg) đang là 5,1x. 

Theo SSI Research, việc định giá lại đối với ngành dệt may có thể xảy ra khi kế hoạch phát triển nguồn cung vải trong nước trở nên rõ ràng hơn, do điều này sẽ giúp ngành dệt may được hưởng lợi từ cơ chế thuế của EVFTA. Tuy nhiên, việc định giá lại này khó có thể xảy ra trong năm 2021 do (1) cạnh tranh từ Trung Quốc đang gay gắt hơn; và (2) nguồn cung vải trong nước khó có thể tăng lên đáng kể trong ngắn hạn. 

Phân biệt các loại bông gòn tấm, gòn cuộn, gòn tơi, gòn bi, gòn xơ

Bông gòn tấm, gòn cuộn

Các bạn nếu chưa được nhìn thấy bông tấm thì có thể tưởng tượng được (xem ảnh). Nó là một loại vải không dệt làm từ chất liệu xơ hóa học, được tạo thành theo quy trình Cán – Định hình – Điều chỉnh – Là. Bông gòn tấm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong lĩnh vực may mặc, xây dựng và các ngành công nghiệp khác. Ở đây đề cập đến một số loại bông hay dùng may mặc (chần bông, may áo khoác)…

Đây là loại bông gòn với chất liệu là 100% polyester được sản xuất và kết thành tấm (khổ 1.6m-2.0m) sau đó được cuộn thành từng cây với trọng lượng từ 10-20kg/cây. Gòn cuộn với đặc tính mềm, độ đàn hồi tốt, các sợi bông được liên kết chặt với nhau nên rất rất bền.

Bông gòn tấm

Bông gòn cuộn (gòn cây)

Thông thường được sử dụng để chần mền, drap nệm, sofa, chần áo gió, áo khoác… Bông tấm có thể ở các dạng dễ uốn, xốp, tấm rất lớn, hoặc thậm chí rất dày tùy mục đích sử dụng, các sợi trong các dạng đó là ở dạng dễ tách riêng. Thi thoảng tớ còn tận dụng miếng bông tấm vụn rồi dễ dàng xé nó ra để nhồi gấu bông ấy. Nó khá dễ xé với loại bông mềm.

Có 1 số tên chuyên ngành về bông tấm Padding HAS 905, 907, 909, 912, 915 dựa vào độ dày mỏng, Paddin g 20g, 60g, 100g, Padding 1OZ, 2OZ,…

Bông gòn cuộn, gòn cây

Bông gòn tơi

Bông gòn tơi chất liệu tương tự như gòn cuộn, đều có thành phần là polyester, tuy nhiên gòn loại này không được kết thành tấm hay thành cuộn mà được làm tơi ra thành những sợi bông nhỏ. Bông gòn tơi trên thị trường có nhiều loại khác nhau từ loại thô cứng đến những loại mềm mại thấm hút tốt. Gòn tơi được sử dụng vào các mục đích chính như sau: làm bông nhồi gối đầu, gối tựa lưng,gối hơi đến những loại gối cao cấp khác tùy theo đặc tính của từng loại ( gòn tơi với đặc tính đàn hồi nên khi nhồi gối có độ bung rất cao,hạn chế bị xẹp trong quá trình sử dụng), làm bông nhồi thú, làm chăn bông…

bông gòn tơi

Bông gòn bi

Không kiểu dạng tấm, bông hạt được nhà sản xuất vò thành những hạt nhỏ , tròn, kích thước tương đương nhau. Do được vò thành những hạt tròn nên nó có độ đàn hồi và chịu lực rất tốt, hạn chế tối đa sản phẩm bị xẹp, co hay teo lại trong quá trình sử dụng. Với những đặc tính ưu việt như vậy nên bông gòn bi thường được dùng để sản xuất các sản phẩm : nhồi gối hơi, nhồi gối đầu, gối tựa lưng, gối cao cấp…

Tại thị trường Việt Nam, năng suất sản phẩm này khá cao, với sản lượng ngày càng lớn. Với các bạn thích handmade, sử dụng bông hạt sẽ đỡ hao hơn và an toàn.

bông gòn bi

Bông gòn xơ

Bông gòn xơ là loại còn chưa được chế biến thành phẩm vẫn còn nguyên thủy hoặc một phần nguyên thủy. Gòn xơ sau khi chế biến sẽ được những sản phẩm trên ( gòn tấm, gòn cuộn, gòn tơi, gòn bi…). Thành phần của bông gòn xơ bao gồm một phần coton (hoặc các tạp chất khác) và polyester, nên gòn xơ thường thô, cứng hơn các loại gòn đã thành phẩm, thường được dùng vào mục đích: làm bông nhồi gối, nhồi thú bông hoặc làm nệm…, tuy nhiên chất lượng không thể nào bằng những loại thành phẩm trên.

bông gòn xơ

Qui Mô Của Ngành Dệt May và May Mặc Toàn Cầu: 2016 đến 2021/2022

Thị trường chính của ngành hàng dệt may bao gồm chủ yếu là sợi và vải. Quy mô thị trường được ước lượng dựa trên giá trị sản xuất nội địa cộng với giá trị nhập khẩu ròng, và được tính bằng giá bán của các nhà sản xuất.Tổng giá trị của thị trường dệt may toàn cầu là 748.1 tỷ USD trong năm 2016 (trong đó khoản 83.7% là từ sợi và 16.3% là từ vải), tăng trưởng 3.5% so với năm trước. Tỷ lện tăng trưởng kép (CAGR) của ngành là 2.7% tính từ 2012 đến 2015. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm 59.6% giá trị thị trường dệt may toàn cầu năm 2016 (tăng từ 54.6% so với 2015), Châu Âu và Mỹ lần lược chiếm hơn 19.1% và 10.8% thị trường.Thị trường dệt may được dự báo sẽ tăng lên 961.0 tỷ USD vào năm 2021, và tăng 28.5% tính từ năm 2016. Tốc độ tăng trưởng kép giữ năm 2016 và 2021 được dự báo là 5.1%.

+ Thị trường sản xuất hàng may mặc

Thị trường sản xuất hàng may mặc bao gồm tất cả quần áo trừ mặt hàng da, giày dép, quần áo dệt kim cũng như các sản phẩm kỹ thuật, gia dụng và trang điểm khác. Quy mô thị trường được ước lượng dựa trên giá trị sản xuất nội địa công với nhập khẩu ròng, và được tính bằng giá bán của nhà sản xuất.

Tổng giá trị thị trường của hàng may mặc toàn cầu là 785.9 tỷ USD trong năm 2016, tăng trưởng 3.3% so với năm trước. Tỷ lệ tăng trưởng kép của thị trường là 4.4% từ năm 2012 đến 2016. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 61% giá trị thị trường trong năm 2016 và Châu Âu chiếm hơn 15.2% thị trường.

Thị trường sản xuất hàng may mặc toàn cầu được dư đoán tăng lên 992 tỷ USD trong năm 2021, tăng trưởng 26% so với 2016. Tốc độ tăng trưởng kép trong suốt giai đoạn 2016-2021 được dự báo là 4.8%.

+ Thị trường bán lẻ hàng may mặc

Ngành công nghiệp bán lẻ may mặc bao gồm bán lẻ của quần áo nam, nữ và trẻ em. Giá trị thị trường được tính bởi giá bán lẻ trên thị trường, và bao gồm tất cả các loại thuế và phí.

Giá trị thị trường bán lẻ hàng may mặc đạt 1.414 tỷ USD trong năm 2017 (52.6% quần áo nữ, 31.2% quần áo nam và 16.1% quần áo trẻ em), tăng 4.9% so với năm trước. Tỷ lệ tăng trưởng kép của thị trường là 4.4% trong giai đoạn 2013-2017. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 37.1% thị trường bán lẻ hàng may mặc trong năm 2017 (tăng 36.8% so với năm 2015), theo sau là Châu âu (28.5%) và Mỹ (23.6%).

Thị trường bán lẻ toàn cầu được dự báo sẽ đạt 1.834 tỷ USD trong năm 2022, tăng 29.7% so với năm 2017. Tốc độ tăng trưởng kép của thị trường từ 2017 đến 2022 được dự báo là 5.3%.

(Source: https://shenglufashion.com/2018/12/18/market-size-of-the-global-textile-and-apparel-industry-2016-to-2021-2022/)