VI | EN

Kim ngạch xuất khẩu dệt may tăng 17,7% nửa đầu năm 2022

Năm 2022 là thời điểm các doanh nghiệp dệt may từng bước phục hồi sau ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Dù đối mặt với nhiều khó khăn, nhưng toàn ngành dệt may Việt Nam vẫn đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2022 đạt khoảng 43,5 tỷ USD.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam Vũ Đức Giang, năm 2022 là thời điểm mà các doanh nghiệp dệt may từng bước phục hồi sau ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. 6 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt khoảng 22,3 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2021. 

Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực là hàng may mặc với kim ngạch 16,94 tỷ USD tăng 19,5% so cùng kỳ; Xuất khẩu (XK) vải đạt 1,4 tỷ USD, tăng 20,8%; XK xơ sợi đạt 2,76 tỷ USD, tăng 4,4%; XK phụ liệu dệt may đạt 734 triệu USD tăng 22,3%; XK vải không dệt đạt 452 triệu USD tăng 25,5%.

Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên, phụ liệu dệt may 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 13,4 tỷ USD tăng 9,8% so cùng kỳ 2021. Kim ngạch xuất siêu đạt 8,86 tỷ USD, tăng 32% so với 6 tháng 2021. Đây có thể xem là một nỗ lực tuyệt vời của các doanh nghiệp dệt may trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn.

Năm 2022 toàn ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đạt 43,5 tỷ USD. Như vậy, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2022 còn gần 50%.

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam còn phải đối mặt với nhiều rủi ro, thách thức trước mắt khi nguy cơ tái bùng phát bởi các biến chủng Covid-19 mới vẫn đang hiện hữu.

Nhiều quốc gia là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc)… vẫn đang áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt chống dịch, và ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi cung ứng nguyên, phụ liệu và tiêu thụ sản phẩm dệt may Việt Nam.

Bên cạnh đó, lạm phát cao tại các thị trường tiêu thụ dệt may lớn của Việt Nam như Mỹ, EU… cộng với diễn biến phức tạp xung đột Nga – Ukraine khiến giá nguyên, nhiên phụ liệu tăng cao liên tục từ đầu năm đến nay, cụ thể: Giá bông tăng 19,1%; giá dầu thô tăng 40%; giá xăng trong nước tăng 67%; chi phí vận tải cao gấp 3 lần so với bình quân 5 năm trở lại đây… làm cho chi phí của doanh nghiệp tăng khoảng 20 – 25%.

Ngoài ra, bất lợi về tỷ giá với các đối thủ cạnh tranh, tình trạng thiếu lao động sau đại dịch, yêu cầu truy soát nguồn gốc bông, vải, sợi hay xanh hóa dệt may từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng là những thách thức mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam đang phải đối mặt.

Công nhân May 10 nỗ lực sản xuất kinh doanh phục hồi kinh tế. Ảnh: Khắc Kiên

Để ổn định sản xuất, hướng tới mục tiêu bền vững trong thời gian tới, bản thân các doanh nghiệp cần bắt kịp xu thế thị trường, đầu tư máy móc công nghệ, chuyển đổi xanh thích ứng với những yêu cầu của nhãn hàng, tăng cường giải pháp xây dựng đào tạo nguồn lực, đặc biệt chú trọng tới nguồn nhân lực thiết kế cho ngành công nghiệp thời trang để từng bước tiến tới làm hàng FOB, ODM.

Dệt may: Khó khăn đè nặng nửa cuối năm

TTO – Nửa đầu năm 2021, lợi nhuận ròng của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tăng 90% so với cùng kỳ năm trước. Dù vậy, với làn sóng dịch COVID-19 bùng phát, áp lực thiếu nhân sự, chi phí logistics đè nặng nửa cuối năm.

Dệt may: Khó khăn đè nặng nửa cuối năm - Ảnh 1.

Thách thức đè nặng doanh nghiệp dệt may vào nửa cuối năm 2021 do dịch COVID-19 tác động – Ảnh: TT

Lợi nhuận ròng tăng

Theo ước tính của Chứng khoán VNDirect, tổng doanh thu nửa đầu năm 2021 của các công ty dệt may niêm yết tăng hơn 7% (so với mức nền thấp khi cùng kỳ năm trước bị ảnh hưởng đợt dịch đầu tiên bùng phát), song giảm hơn 12% so với cùng kỳ năm 2019.

Do nhanh chóng lấy được đơn hàng dịch chuyển từ các nước đối thủ sang Việt Nam, Công ty cổ phần (CTCP) Đầu tư và thương mại TNG (mã chứng khoán TNG) và CTCP Sản xuất kinh doanh và xuất nhập khẩu Bình Thạnh (GIL) đều có doanh thu tăng trưởng cao, lần lượt tăng gần 29% và 30%.

Biên lợi nhuận gộp một số doanh nghiệp được cải thiện mạnh mẽ trong nửa năm qua. Trong đó biên lợi nhuận gộp của Sợi Thế Kỷ (STK) đạt gần 20%. Lợi nhuận gộp của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VGT) tăng gần 7 điểm phần trăm so với cùng kỳ nhờ hưởng lợi từ các đơn hàng FOB chuyển từ Myanmar và Ấn Độ sang Việt Nam.

Dù vậy, do thiếu hụt các đơn hàng khẩu trang, vải anti-virus và chi phí vận chuyển tăng cao từ các đơn hàng ODM (trọn gói từ thiết kế đến thành phẩm), nên biên lợi nhuận gộp của TNG và Dệt may – đầu tư – thương mại Thành Công (TCM) đều giảm.

Tổng kết nửa đầu năm 2021, lợi nhuận ròng của các doanh nghiệp dệt may niêm yết tăng 90% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn gần 26% so với cùng kỳ năm năm 2019.

Cơ hội giành thị trường từ đối thủ cạnh tranh

Các nhà xuất khẩu dệt may của Ấn Độ đang đối mặt nguy cơ mất phần lớn đơn hàng vào tay các đối thủ như Việt Nam, Bangladesh, Sri Lanka và Pakistan. Nhiều nhà máy may của Ấn Độ phải đóng cửa hoặc chỉ hoạt động 50% công suất để ngăn chặn các ca lây nhiễm COVID-19 mới.

Ngành dệt may của Myanmar đối mặt cùng lúc hai vấn đề lớn là số ca nhiễm COVID-19 tăng và tình hình chính trị bất ổn.

Dù đợt bùng phát dịch COVID-19 lần thứ tư gây ra nhiều thách thức với Việt Nam, nhưng VNDirect cho rằng những tác động tiêu cực đối với Myanmar và Ấn Độ là cơ hội để chúng ta tăng thị phần tại Mỹ và Hàn Quốc.

TNG, May Sông Hồng (MSH) và GIL có thể hưởng lợi vì nhà máy đặt tại Thái Nguyên, Nam Định và Huế – nằm ngoài tâm dịch hiện tại.

Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu chính, chiếm 70% doanh thu xuất khẩu của GIL trong 6 tháng đầu năm nay. Ước tính sự gia tăng đơn đặt hàng do những gián đoạn nguồn cung ở thị trường Ấn Độ và Myanmar sẽ đóng góp 20% và 15% vào doanh thu của TNG và MSH trong năm 2021.

Tín hiệu khả quan là hiện nay người tiêu dùng Mỹ và EU có nhu cầu mua sắm mạnh mẽ sau khi gỡ lệnh phong tỏa. Kim ngạch nhập khẩu dệt may của Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2021 đạt 50,6 tỉ USD (+31%), trong đó kim ngạch nhập khẩu hàng may mặc đạt 35,3 tỉ USD (+27%).

VNDirect kỳ vọng Hoa Kỳ và EU vẫn là hai thị trường xuất khẩu chính của dệt may Việt Nam trong năm 2021-2022.

Chồng chất thách thức nửa cuối năm

Dịch COVID-19 đang bùng phát ở khu vực phía Nam có thể làm gián đoạn chuỗi cung ứng do các công ty không thể vận chuyển nguyên liệu và thiếu nguồn nhân lực để đảm bảo thời gian giao hàng.

Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), giãn cách xã hội kéo dài sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả kinh doanh của các công ty dệt may, khoảng 50% nhà máy đặt tại miền Nam. Hiện tỉ lệ nhà máy phải đóng cửa đã lên tới 35%, do không đủ kinh phí để thực hiện “3 tại chỗ”.

Ngành dệt may Việt Nam đối mặt thách thức thiếu hụt lao động và tỉ lệ tiêm vắc xin cho ngành vẫn thấp. Trong kịch bản tích cực, nếu COVID-19 được kiểm soát vào cuối tháng 8-2021, kim ngạch xuất khẩu của ngành trong năm 2021 chỉ đạt 33 tỉ USD (-6% so với cùng kỳ), hoàn thành 84% kế hoạch cả năm.

Chứng khoán VNDirect nhận định, tình trạng thiếu container rỗng và chi phí logistics tăng cao có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp có đơn hàng ODM và OBM (thiết kế sản phẩm mang thương hiệu và tạo thành phẩm).

VITAS dự báo nếu dịch COVID-19 được kiểm soát vào cuối tháng này thì số lượng công nhân dự kiến chỉ đạt 65%. Do đó, thiếu hụt nguồn nhân lực sẽ là thách thức lớn cho ngành trong quý 3 này.

Nhạy cảm” với Covid-19, xuất khẩu dệt may 2021 có về mốc 39 tỷ USD?

Hàng dệt may xuất khẩu rất nhạy cảm với dịch Covid-19 và việc định giá lại ngành dệt may khó có thể xảy ra trong năm 2021…

Vitas ước tính xuất khẩu hàng dệt may vào cuối năm 2020 đạt 35,3 tỷ USD (-10% so với cùng kỳ) – ảnh minh họa.

Trong báo cáo về triển vọng ngành dệt may năm 2021 vừa công bố, công ty chứng khoán SSI (SSI Research) nhận định, hàng dệt may xuất khẩu rất “nhạy cảm” với dịch Covid-19 và việc định giá lại ngành dệt may khó có thể xảy ra trong năm 2021.

Giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2020 đạt 31,7 tỷ USD (-11% so với cùng kỳ). Giá trị xuất khẩu hàng may mặc giảm (-) 10% so với cùng kỳ, đạt 26,9 tỷ USD. Hiệp hội Dệt May Việt Nam (Vitas) ước tính xuất khẩu hàng dệt may vào cuối năm 2020 đạt 35,3 tỷ USD (-10% so với cùng kỳ).

Thị phần tại Mỹ tăng nhưng không bù lại nhu cầu giảm

Báo cáo của SSI Research dẫn thông tin của Văn phòng Dệt may Hoa Kỳ (OTEXA), cho biết, Việt Nam tiếp tục giành thêm thị phần tại Mỹ trong năm 2020, từ 13% trong năm 2019 lên 14,9% tính đến cuối tháng 10/2020, trong khi Trung Quốc mất thị phần trong cùng khoảng thời gian đó (từ 32,8% xuống 28,1%). 

Nhạy cảm với Covid-19, xuất khẩu dệt may 2021 có về mốc 39 tỷ USD? - Ảnh 1.
Tăng trưởng xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam theo tháng (YoY) – nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, SSI Research.

Tuy nhiên, thị phần tăng thêm không thể bù đắp được tác động của nhu cầu giảm, khiến giá trị xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ vẫn giảm (-) 6% so với cùng kỳ. 

Ngoài ra, các thương hiệu bán lẻ thời trang phá sản trong đợt đại dịch cũng ảnh hưởng không nhỏ đến các công ty sản xuất hàng may mặc của Việt Nam, trong đó Công ty cổ phần May Sông Hồng (mã chứng khoán MSH) bị ảnh hưởng nặng nề nhất khi khách hàng chính – NY & Co – tuyên bố phá sản vào tháng 7 khi đang nợ MSH 219 tỷ đồng. 

Tuy các đơn đặt hàng truyền thống giảm mạnh do nhu cầu suy yếu, nhu cầu cấp bách tạm thời đối với mặt hàng may mặc phòng chống dịch Covid-19 (khẩu trang vải kháng khuẩn và quần áo bảo hộ) đã hỗ trợ một số công ty sản xuất hàng may mặc, báo cáo của SSI Research cho hay.

Cụ thể, theo OTEXA, Việt Nam đã xuất khẩu 272 triệu USD khẩu trang dệt kim trong 10 tháng đầu năm 2020, chiếm 23,3% thị phần của mặt hàng này tại Mỹ. Hơn nữa, các cơ quan y tế của chính phủ Mỹ đã nhấn mạnh việc đeo khẩu trang (thậm chí sau khi tiêm vắc-xin), cho thấy nhu cầu với mặt hàng này vẫn có thể kéo dài hơn trong năm 2021. 

Mặc dù Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) có hiệu lực từ tháng 8/2020 và được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội cho các công ty dệt may của Việt Nam tăng trưởng xuất khẩu sang thị trường EU – thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới, tuy nhiên, do EVFTA yêu cầu quy tắc xuất xứ từ khâu vải trở đi, nên hầu hết các công ty may mặc của Việt Nam không được hưởng lợi tức thì.

Có thể về mốc 39 tỷ USD?

Đánh giá về triển vọng tăng trưởng của ngành dệt may năm 2021, đơn vị nghiên cứu SSI Research cho rằng, hàng dệt may xuất khẩu rất “nhạy cảm” với dịch Covid-19. Giá trị xuất khẩu của Việt Nam giảm trong tháng 4 và tháng 5 sau thông báo giãn cách xã hội tại EU và Mỹ, do các nhà bán lẻ đã hành động ngay lập tức để ngừng tích trữ hàng tồn kho.

Theo dự báo của Hiệp hội Dệt May Việt Nam (được SSI Research trích dẫn trong báo cáo), rằng giá trị xuất khẩu năm 2021 có thể phục hồi về mức năm 2019, đạt 39 tỷ USD, tương đương với mức tăng trưởng 10,6% so với cùng kỳ, cao hơn so với  tốc độ tăng trưởng hàng năm kép (CAGR) giai đoạn 2015-2019 là 9,9%. 

Đối với mục tiêu giá trị xuất khẩu năm 2025 đạt 55 tỷ USD (CAGR 5 năm là 9,4% trong giai đoạn 2020-2025), để đạt được tốc độ CAGR một con số cao như vậy, Việt Nam phải xây dựng nguồn cung vải trong nước phù hợp để khai thác lợi ích của cả EVFTA và UKVFTA. 

Ở góc độ định giá giá trị (cổ phiếu) của các doanh nghiệp trong ngành, theo SSI Research, Công ty Cổ phần Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công (mã cổ phiếu TCM) đã vượt qua mức định giá so với trước Covid và hiện đang giao dịch với hệ số P/E 2021 là 12,5x và P/E TTM là 12,3x – cao hơn nhiều so với P/E bình quân 1 năm trước đây và P/E TTM bình quân 5 năm là 7,9x, trong khi STK (Công ty cổ phần Sợi Thế Kỷ) và MSH (Công ty CP May Sông Hồng) đang giao dịch trong vùng lịch sử của P/E dự phóng 1 năm: P/E 2021 của STK đang là 6,3x, và của MSH (theo dữ liệu Bloomberg) đang là 5,1x. 

Theo SSI Research, việc định giá lại đối với ngành dệt may có thể xảy ra khi kế hoạch phát triển nguồn cung vải trong nước trở nên rõ ràng hơn, do điều này sẽ giúp ngành dệt may được hưởng lợi từ cơ chế thuế của EVFTA. Tuy nhiên, việc định giá lại này khó có thể xảy ra trong năm 2021 do (1) cạnh tranh từ Trung Quốc đang gay gắt hơn; và (2) nguồn cung vải trong nước khó có thể tăng lên đáng kể trong ngắn hạn. 

Phân biệt các loại bông gòn tấm, gòn cuộn, gòn tơi, gòn bi, gòn xơ

Bông gòn tấm, gòn cuộn

Các bạn nếu chưa được nhìn thấy bông tấm thì có thể tưởng tượng được (xem ảnh). Nó là một loại vải không dệt làm từ chất liệu xơ hóa học, được tạo thành theo quy trình Cán – Định hình – Điều chỉnh – Là. Bông gòn tấm phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong lĩnh vực may mặc, xây dựng và các ngành công nghiệp khác. Ở đây đề cập đến một số loại bông hay dùng may mặc (chần bông, may áo khoác)…

Đây là loại bông gòn với chất liệu là 100% polyester được sản xuất và kết thành tấm (khổ 1.6m-2.0m) sau đó được cuộn thành từng cây với trọng lượng từ 10-20kg/cây. Gòn cuộn với đặc tính mềm, độ đàn hồi tốt, các sợi bông được liên kết chặt với nhau nên rất rất bền.

Bông gòn tấm

Bông gòn cuộn (gòn cây)

Thông thường được sử dụng để chần mền, drap nệm, sofa, chần áo gió, áo khoác… Bông tấm có thể ở các dạng dễ uốn, xốp, tấm rất lớn, hoặc thậm chí rất dày tùy mục đích sử dụng, các sợi trong các dạng đó là ở dạng dễ tách riêng. Thi thoảng tớ còn tận dụng miếng bông tấm vụn rồi dễ dàng xé nó ra để nhồi gấu bông ấy. Nó khá dễ xé với loại bông mềm.

Có 1 số tên chuyên ngành về bông tấm Padding HAS 905, 907, 909, 912, 915 dựa vào độ dày mỏng, Paddin g 20g, 60g, 100g, Padding 1OZ, 2OZ,…

Bông gòn cuộn, gòn cây

Bông gòn tơi

Bông gòn tơi chất liệu tương tự như gòn cuộn, đều có thành phần là polyester, tuy nhiên gòn loại này không được kết thành tấm hay thành cuộn mà được làm tơi ra thành những sợi bông nhỏ. Bông gòn tơi trên thị trường có nhiều loại khác nhau từ loại thô cứng đến những loại mềm mại thấm hút tốt. Gòn tơi được sử dụng vào các mục đích chính như sau: làm bông nhồi gối đầu, gối tựa lưng,gối hơi đến những loại gối cao cấp khác tùy theo đặc tính của từng loại ( gòn tơi với đặc tính đàn hồi nên khi nhồi gối có độ bung rất cao,hạn chế bị xẹp trong quá trình sử dụng), làm bông nhồi thú, làm chăn bông…

bông gòn tơi

Bông gòn bi

Không kiểu dạng tấm, bông hạt được nhà sản xuất vò thành những hạt nhỏ , tròn, kích thước tương đương nhau. Do được vò thành những hạt tròn nên nó có độ đàn hồi và chịu lực rất tốt, hạn chế tối đa sản phẩm bị xẹp, co hay teo lại trong quá trình sử dụng. Với những đặc tính ưu việt như vậy nên bông gòn bi thường được dùng để sản xuất các sản phẩm : nhồi gối hơi, nhồi gối đầu, gối tựa lưng, gối cao cấp…

Tại thị trường Việt Nam, năng suất sản phẩm này khá cao, với sản lượng ngày càng lớn. Với các bạn thích handmade, sử dụng bông hạt sẽ đỡ hao hơn và an toàn.

bông gòn bi

Bông gòn xơ

Bông gòn xơ là loại còn chưa được chế biến thành phẩm vẫn còn nguyên thủy hoặc một phần nguyên thủy. Gòn xơ sau khi chế biến sẽ được những sản phẩm trên ( gòn tấm, gòn cuộn, gòn tơi, gòn bi…). Thành phần của bông gòn xơ bao gồm một phần coton (hoặc các tạp chất khác) và polyester, nên gòn xơ thường thô, cứng hơn các loại gòn đã thành phẩm, thường được dùng vào mục đích: làm bông nhồi gối, nhồi thú bông hoặc làm nệm…, tuy nhiên chất lượng không thể nào bằng những loại thành phẩm trên.

bông gòn xơ

Qui Mô Của Ngành Dệt May và May Mặc Toàn Cầu: 2016 đến 2021/2022

Thị trường chính của ngành hàng dệt may bao gồm chủ yếu là sợi và vải. Quy mô thị trường được ước lượng dựa trên giá trị sản xuất nội địa cộng với giá trị nhập khẩu ròng, và được tính bằng giá bán của các nhà sản xuất.Tổng giá trị của thị trường dệt may toàn cầu là 748.1 tỷ USD trong năm 2016 (trong đó khoản 83.7% là từ sợi và 16.3% là từ vải), tăng trưởng 3.5% so với năm trước. Tỷ lện tăng trưởng kép (CAGR) của ngành là 2.7% tính từ 2012 đến 2015. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương chiếm 59.6% giá trị thị trường dệt may toàn cầu năm 2016 (tăng từ 54.6% so với 2015), Châu Âu và Mỹ lần lược chiếm hơn 19.1% và 10.8% thị trường.Thị trường dệt may được dự báo sẽ tăng lên 961.0 tỷ USD vào năm 2021, và tăng 28.5% tính từ năm 2016. Tốc độ tăng trưởng kép giữ năm 2016 và 2021 được dự báo là 5.1%.

+ Thị trường sản xuất hàng may mặc

Thị trường sản xuất hàng may mặc bao gồm tất cả quần áo trừ mặt hàng da, giày dép, quần áo dệt kim cũng như các sản phẩm kỹ thuật, gia dụng và trang điểm khác. Quy mô thị trường được ước lượng dựa trên giá trị sản xuất nội địa công với nhập khẩu ròng, và được tính bằng giá bán của nhà sản xuất.

Tổng giá trị thị trường của hàng may mặc toàn cầu là 785.9 tỷ USD trong năm 2016, tăng trưởng 3.3% so với năm trước. Tỷ lệ tăng trưởng kép của thị trường là 4.4% từ năm 2012 đến 2016. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 61% giá trị thị trường trong năm 2016 và Châu Âu chiếm hơn 15.2% thị trường.

Thị trường sản xuất hàng may mặc toàn cầu được dư đoán tăng lên 992 tỷ USD trong năm 2021, tăng trưởng 26% so với 2016. Tốc độ tăng trưởng kép trong suốt giai đoạn 2016-2021 được dự báo là 4.8%.

+ Thị trường bán lẻ hàng may mặc

Ngành công nghiệp bán lẻ may mặc bao gồm bán lẻ của quần áo nam, nữ và trẻ em. Giá trị thị trường được tính bởi giá bán lẻ trên thị trường, và bao gồm tất cả các loại thuế và phí.

Giá trị thị trường bán lẻ hàng may mặc đạt 1.414 tỷ USD trong năm 2017 (52.6% quần áo nữ, 31.2% quần áo nam và 16.1% quần áo trẻ em), tăng 4.9% so với năm trước. Tỷ lệ tăng trưởng kép của thị trường là 4.4% trong giai đoạn 2013-2017. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm 37.1% thị trường bán lẻ hàng may mặc trong năm 2017 (tăng 36.8% so với năm 2015), theo sau là Châu âu (28.5%) và Mỹ (23.6%).

Thị trường bán lẻ toàn cầu được dự báo sẽ đạt 1.834 tỷ USD trong năm 2022, tăng 29.7% so với năm 2017. Tốc độ tăng trưởng kép của thị trường từ 2017 đến 2022 được dự báo là 5.3%.

(Source: https://shenglufashion.com/2018/12/18/market-size-of-the-global-textile-and-apparel-industry-2016-to-2021-2022/)